Tàn phá thiên nhiên và cái giá phải trả

Những gì miền Trung đang gánh chịu có thể xem là thảm họa. Thời tiết, khí hậu và thổ nhưỡng vùng này vốn khắc nghiệt, đó là một lẽ, song nếu không có bàn tay thô bạo của con người thì thiên tai đã không khủng khiếp đến thế…
Miền Trung chưa thoát được hoàn toàn đại dịch Covid-19 lại đang liên tục bị thiên tai bão lũ, lở đất hoành hành, nhiều người dân, kể cả cán bộ chiến sĩ quân đội đã mất tính mạng, nhiều cơ sở vật chất bị tàn phá, đau thương không kể xiết. Đáng lẽ, đã không phải gánh chịu như thế.

Thủy điện: Lợi lớn, hại không nhỏ

Đối với khu vực miền Trung, với đặc điểm tự nhiên mưa lũ lớn, lòng sông dốc và hẹp, cửa sông bị sa bồi và thay đổi qua từng năm, nhiều vùng địa chất yếu…, nên thường xuyên chịu tổn thất lớn về người và tài sản trong mùa lũ hằng năm. Trước và sau khi có các hồ chứa thủy điện vận hành, đã xảy ra nhiều trận mưa, lũ gây thiệt hại nặng nề đối với khu vực này như các năm 1999, 2007, 2008, 2010, 2011 và 2020.

Hiện nay, toàn khu vực miền Trung và Tây Nguyên đã đưa vào vận hành khai thác 54 thủy điện bậc thang (7.025 MW) và 156 thủy điện nhỏ (1.565 MW); đang thi công xây dựng 11 dự án bậc thang (704 MW) và 72 dự án thủy điện nhỏ (859 MW). Đối với các công trình thủy điện vừa và nhỏ đã vận hành góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, điều tiết mức giá điện hợp lý (thủy điện trên cả nước hiện chiếm khoảng 37% điện năng của hệ thống điện quốc gia), đóng góp tỉ lệ cao trong nguồn thu ngân sách của các địa phương liên quan, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

Tuy nhiên, do thủy điện vừa và nhỏ chủ yếu nằm trên các lưu vực sông nhánh hoặc suối với diện tích lưu vực nhỏ, độ dốc lớn nên dung tích hồ chứa khiêm tốn, dẫn tới hiệu quả cắt giảm lũ không đáng kể. Đáng nói, khi xây dựng thủy điện thì phải phá rừng – đây là yếu tố “góp phần” vào việc làm thay đổi dòng chảy, môi trường sinh thái trong khu vực. Vì vậy, thời gian qua, Bộ Công Thương đã không xem xét bổ sung bất cứ dự án thủy điện nào có chiếm diện tích đất rừng tự nhiên.

Tổng lượng mưa lũy tích từ ngày 15-10 đến 19 giờ ngày 19-10-2020: khu vực Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa – Nghệ An phổ biến 160÷220 mm, từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế phổ biến 450÷840 mm. Trong khi đó, hệ thống công trình thoát lũ ở miền Trung vẫn còn quá ít, liên quan đến cả hệ thống giao thông cắt vuông góc với hướng dòng chảy, đường càng cao thì chặn lũ, ứ lại càng nhiều, hệ thống cống thoát khi tính toán thiết kế thường không tính được hết lưu lượng lũ cần tải qua càng làm cho khả năng thoát lũ chậm hơn.

Thủy điện Đăk Mi 4 ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xả lũ điều tiết nước hôm 13-10.Ảnh: Trần Thường

Gọi đích danh “nhân tai”!

Miền Trung tang thương như vậy còn có cả nguyên nhân chủ quan từ một số lãnh đạo và người dân địa phương. Minh chứng cụ thể như ở hạ lưu sông Hương – TP Huế cũng đã có xây dựng bản đồ ngập lụt nhưng độ chính xác không cao và khi thực hiện dự án này cũng không xây dựng được theo các kịch bản mưa cực đoan, dồn dập mưa nhiều đợt như thời gian vừa qua. Phải khuyến cáo cụ thể là ứng với lượng mưa ở khu vực nào thì bị ngập bao nhiêu, từ đó chính quyền các cấp phải vào cuộc quyết liệt, chủ động di dời dân đến những khu vực an toàn đã được nghiên cứu trong các dự án – rất tiếc là họ không làm những điều này.

Back to top button